Nhà Truyền thống - Khu căn cứ Huyện ủy Hòa Vang
Dấu ấn một chặng đường Cách mạng
Hành trình qua những trang sử huy hoàng của dân tộc
Bắt Đầu Khám PháĐỊA ĐIỂM THAM QUAN
Những không gian lịch sử đầy ý nghĩa
Phòng truyền thống Huyện ủy Hòa Vang
Phòng truyền thống xã Hòa Vang trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh quý giá phản ánh lịch sử, văn hóa và quá trình phát triển của địa phương. Không gian trang nghiêm, bố trí khoa học giúp người xem hiểu rõ truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh và thành tựu nổi bật của xã.
Tìm Hiểu Thêm
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang hiện nay thuộc thôn Phú Túc, xã Hòa Phú và thôn Phước Sơn, xã Hòa Khương thuộc xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang cách trung tâm hành chính của thành phố Đà Nẵng khoảng 39km về phía tây nam. Từ trung tâm thành phố theo nhiều tuyến đường nội thị khác nhau đi đến cầu vượt Hòa Cầm khoảng 9km. Từ đây theo đường quốc lộ 14B thẳng lên khoảng 9km là bắt gặp Trường Tiểu học An Phước (phía bên trái) và trung tâm hành chính huyện Hòa Vang (phía bên phải). Tại đây rẽ phải, sẽ gặp điểm đầu của con đường nhựa liên tỉnh DT604. Tiếp tục hành trình theo hướng tây khoảng 19 km nữa, chúng ta đã đến Phú Túc, thôn cực tây của xã Hòa Phú, xã Hòa Vang, nơi có làng định cư của người dân tộc thiểu số Cơtu, giữa một thung lũng hẹp. Từ đây nhìn về hướng bắc sẽ thấy ngọn núi cao quanh năm mây trắng bao phủ, đó là ngọn núi Chúa với độ cao 1478m của khu du lịch Bà Nà Hill nổi tiếng; còn theo bảng chỉ dẫn rẽ vào hướng
Tìm Hiểu ThêmTHƯ VIỆN HIỆN VẬT
Những báu vật lịch sử quý giá
Cây rút dép (Nguyễn Đình Tùng)
Cây rút dép của đồng chí Nguyễn Đình Tùng - Nguyên Phó Bí thư Khu I, nguyên Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Hòa Vang. Đây là quà lưu niệm do các đồng chí bộ đội từ miền Bắc vào công tác tại huyện Hòa Vang trao tặng cho đồng chí Tùng và được đồng chí sử dụng trong suốt quá trình tham gia hoạt động cách mạng.
Kiếm (Tống An Phước)
Kiếm Tống An Phước Nhân dân Tống An Phước sử dụng xuống đường dành chính quyền trong cách mạng Tháng Tám 1945
Balô (Nguyễn Thị Chát)
Ba lô của đồng chí Nguyễn Thị chát– Nguyên Phó Bí thư Khu ủy khu L. Năm 1972 đồng chí Chúc được đơn vị 575 tặng cái ba lô này, để cất dùng để bảo vệ các vật dụng cá nhân khi đi dưới đường bằng lên hoạt động tại khu căn cứ.
Gùi cá nhân (Nguyễn Đình Tùng)
Gùi cá nhân của đồng chí Nguyễn Đình Tùng – Nguyên Phó Bí thư Khu I, nguyên Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Hòa Vang. Năm 1968, Khu I vận động người dân may mũ, võng, gùi để làm trang bị cho bộ đội, và để may ba lô chiến lợi phẩm lấy được của lính Mỹ (loại vải lính Mỹ dùng làm áo mưa), đồng chí đã dùng gùi này để mang theo thực phẩm và các vật dụng cá nhân khi đi công tác từ đồng bằng lên căn cứ.
Balo
Ba lô đươc cán bộ Huyện uỷ Hoà Vang dùng đựng vật dụng cá nhân khi đi lại, hoạt động cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ
Bi đông (Nguyễn Văn Chi)
Đồng chí Nguyễn Văn Chi – nguyên Bí thư Huyện ủy Hòa Vang dùng đựng nước uống khi đi lại, hoạt động dưới đồng bằng.
Súng trường CKC
Trong kháng chiến chống Mỹ, du kích xã Hòa Phong tham gia nhiều trận đánh diệt nhiều Mỹ-Ngụy, súng được cất giữ ở hầm bí mật nhà mẹ Lê Thị Loan
Radio
Radio được Ông Trần Văn Thanh (thôn Phú Sơn 1, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng dùng để nghe tin tức từ năm 1954-1975)
Hòm thư chết
Được làm từ cái lon ăng gô, được các đồng chí hoạt động cách mạng chôn ở một điểm cố định dưới đất (dưới cây khế, ở Hòa Tiến ngày nay), bí mật, để trao đổi thông tin liên lạc với các đồng chí hoạt động của các xã Hòa Châu, Hòa Lợi, Hòa Thái (Hòa Tiến ngày nay).
Mìn Claymore
Mìn Claymore
Trống đồng
Trống đồng do Huyện ủy Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tặng Huyện ủy Hòa Vang nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Đảng bộ huyện Hòa Vang (20/11/1945 - 20/11/2015)
Bi đông nhôm (Nguyễn Văn hay)
Bi đông nhôm - Chiến lợi phẩm do đồng chí Nguyễn Văn Hay - Đại đội phó thu được của lính Mỹ vào năm 1972 và sử dụng trong suốt thời gian hoạt động ở Khu căn cứ Cách mạng Huyện ủy Hòa Vang
Lưỡi cuốc
Lưỡi cuốc là một cổ vật lịch sử có giá trị lớn trong việc nghiên cứu về nền văn minh nông nghiệp cổ đại. Được chế tác chủ yếu từ kim loại như sắt hoặc thép, lưỡi cuốc có vai trò quan trọng trong việc khai phá đất đai, phục vụ cho nông nghiệp. Với thiết kế sắc bén và hình dáng cong hoặc thẳng, lưỡi cuốc giúp người sử dụng dễ dàng xới đất, đào bới và cải tạo đất đai để trồng trọt. Lưỡi cuốc là một trong những hiện vật phản ánh sự phát triển của công cụ lao động trong lịch sử. Nó không chỉ minh chứng cho sự sáng tạo trong chế tác công cụ mà còn là dấu ấn của một thời kỳ nông nghiệp phát triển, khi con người bắt đầu định cư và tạo dựng xã hội qua việc trồng trọt và khai phá đất đai. Lưỡi cuốc cổ còn cho thấy mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên, cũng như sự tiến bộ trong kỹ thuật nông nghiệp của các nền văn minh cổ xưa.
Búa hai đầu
Búa 2 đầu là một cổ vật mang nhiều giá trị lịch sử và văn hóa. Nó không chỉ là công cụ lao động quan trọng mà còn là vũ khí mạnh mẽ trong chiến tranh, phản ánh sự sáng tạo và chiến thuật của con người qua các thời kỳ. Cổ vật này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức mà con người cổ đại sử dụng và chế tạo các công cụ trong cuộc sống và trong các trận chiến.
Mã tấu
Mã tấu
Xẻng
Cổ vật xẻng là một công cụ lao động hoặc quân sự đã được sử dụng từ rất lâu trong lịch sử và hiện nay có thể được coi là cổ vật khi chúng có giá trị lịch sử hoặc văn hóa. Xẻng, với thiết kế đơn giản nhưng hữu ích, đã đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động như đào đất, xây dựng, khai thác và các chiến dịch quân sự. Khi trở thành cổ vật, xẻng không chỉ là một công cụ hữu dụng mà còn mang những giá trị văn hóa, lịch sử, và kỹ thuật của thời kỳ mà nó được chế tác.
Khay và hộp đựng dụng cụ cứu thương
Khay và hộp đựng dụng cụ cứu thương là những vật dụng thiết yếu trong y tế, được sử dụng để bảo quản và vận chuyển các dụng cụ, thuốc men và thiết bị cần thiết cho việc cấp cứu và điều trị ban đầu trong các tình huống khẩn cấp. Những hiện vật này có thể được thiết kế đơn giản hoặc tinh vi tùy vào mục đích sử dụng và thời gian sản xuất.
Mũ sắt
Chiến lợi phẩm thu được của giặc Pháp trong trận tiêu diệt đồn Túy Loan (1952)
Huân chương Đặc công Anh Hùng
Huân chương Đặc công Anh Hùng của đồng chí Nguyễn Văn Huy
Huân chương giải phóng hạng Nhất
Huân chương Giải phóng là một trong những huân chương cao quý của Nhà nước Việt Nam, được trao tặng để vinh danh những cá nhân hoặc tập thể có thành tích xuất sắc trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Huân chương Giải phóng có thể được trao cho các cá nhân, đơn vị quân đội, các tổ chức, hoặc những người có công lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, đặc biệt là trong các giai đoạn kháng chiến chống thực dân, đế quốc, và chiến tranh bảo vệ biên giới.
Bi đông (Nguyễn Bá Thành)
Đồng chí Nguyễn Bá Thành – Cán bộ giao liên huyện Hòa Vang trong những năm 1971–1972, đã dùng bi đông đựng sâm dự trữ cho các đồng chí Thường vụ Khu ủy Khu II sử dụng khi đi công tác trong những năm hoạt động trong kháng chiến chống Mỹ.
Ăng gô (Nguyễn Thị Chát)
Đồng chí Nguyễn Thị Chát – Phó Bí thư Khu Ủy Khu II Hòa Vang sử dụng ắng gô được bộ đội tặng năm 1969 để đựng cơm lúc đi đường xa, nấu cơm, nấu nước khi đi lại hoạt động cách mạng.
Nồi đồng
Bà Võ Thị Khánh (Cẩm Toại) dùng nồi này nấu cơm đưa xuống hầm bí mật nuôi dấu cán bộ
Lựu đạn tự tạo
Xưởng vũ khí dân quân Nho - Bán. Ông Trần Nga du kích xã sử dụng đánh Pháp 1950. Đây là 1 trong những quả lựu đạn ông còn lưu giữ (số lượng: 01 cái).
Dụng cụ khám chữa bệnh
Dụng cụ khám chữa bệnh
Huân chương giải phóng hạng Nhì
Huân chương Giải phóng là một trong những huân chương cao quý của Nhà nước Việt Nam, được trao tặng để vinh danh những cá nhân hoặc tập thể có thành tích xuất sắc trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Huân chương Giải phóng có thể được trao cho các cá nhân, đơn vị quân đội, các tổ chức, hoặc những người có công lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, đặc biệt là trong các giai đoạn kháng chiến chống thực dân, đế quốc, và chiến tranh bảo vệ biên giới.
Huân chương giải phóng thành đồng
Huân chương giải phóng thành đồng
Vỏ đầu đạn
Vỏ đầu đạn
Chông sắt
Trong những năm 1965 - 1966, ông Trần Thỉnh ở thôn La Châu, xã Hoà Lương dùng chông sắt này bố phòng quanh khu vực đồi Gò Hà để ngăn chặn những cuộc hành quân, càn quét của lính Mỹ vào thôn...
Bi đông (Cán bộ Hòa Vang)
Cán bộ Huyện uỷ Hoà Vang dùng đựng nước phục vụ nhu cầu cá nhân khi đi lại, hoạt động cách mạng trong những năm 1930 - 1945
Kiếm (Nguyễn Xùn)
Ông Nguyễn Xùn (Khương Mỹ) dùng kiếm này cùng với nhân dân Tổng An Phước xuống đường giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8-1945 (số lượng: 01 cái).
Bình đông (Dương Tuấn Hiệp)
Bình đông (Dương Tuấn Hiệp)
Hủ sành cao
Hủ sành cao
Máy may
Máy may
Tấm vải dù (Ngô Trường Biểu)
Tấm vải dù (Ngô Trường Biểu)
Lựu đạn
Lựu đạn
Dây thắt lưng, bọc đạn, bao súng K54
Đây là những hiện vật do lãnh đạo Khu II cấp cho đ/c từ năm 1972 đến năm 1974, và đ/c đã sử dụng trong nhiều trận đánh, tiêu biểu như năm 1973 ở các trận đánh sau Hiệp định Pari (1973), trận đánh ở Hòa Lợi…
Quai rút dép
Đồng chí Hoàng Thị Vân – Đại Đội phó đơn vị Q84-H116 sử dụng để xỏ quai dép cao su bị tụt trong thời gian đi lại hoạt động cách mạng.
Thắt lưng (Đào Tất Thành)
Đồng chí Đào Tất Thanh – Bí thư Khu II Hòa Vang sử dụng trong suốt quá trình tham gia hoạt động và lãnh đạo tại Khu II Hòa Vang
Đèn pin
Cán bộ Huyện uỷ Hoà Vang dùng soi sáng trong đêm tối khi đi lại hoạt động cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ
Mũ cối lĩnh Mỹ
Mũ cối lĩnh Mỹ
Cưa sắt
Đồng chí Trần Thanh Bình - Khu đội trưởng C2 Khu II Hoa Vang từ năm 1969 đến năm 1975, dùng cửa Bình dùng cửa đầu đạn pháo, lựu M79 của Mỹ để chế tạo thành nhiều quả mìn tự tạo chống dịch, can quét vào vùng trắng các xã Hòa Thái, Hòa Lợi (Hòa Tiến), Phổ Sơn, Hòa Lương, Hòa Bình, Hòa Hưng... Đồng thời thay thế đầu rào cho mình chống lang khi địch vào cày ủi vùng trắng dân...
Đèn bão
Đèn bão
Mã tấu
Ông Nguyễn Cẩm (Dương Lâm) sử dụng trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)
ẤM nhôm
Ấm nhôm
Xoong nhôm
Xoong nhôm
Xoong nhôm (Phạm Thị Hương)
Xoong nhôm nuôi quân của đồng chí Phạm Thị Hương – Nguyên y tá Đại đội 2, C2, Khu II Hòa Vang dùng nấu cơm cho nhân viên trong thời gian công tác tại bệnh xá Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang.
Huân chương giải phóng thành đồng
Huân chương giải phóng thành đồng
Võng
Đây là chiếc võng bằng vải dù Triều Tiên, năm 1968 một bộ phận Cục hậu cần Quân khu Bình Trị Thiên vào công tác, họ đã tặng cho đ/c Tùng chiếc võng này, đây là vật dụng mà đ/c dùng để nằm nghỉ lúc hành quân trên đường Trường Sơn.
Cúp
Bà Nguyễn Thị Mẹo (Cơ sở hoạt động bí mất) dùng cúp này đào nhiều hầm nuôi giấu cán bộ (1954-1968)
Thắt lưng
Thu được tại trận đánh đồn Túy Loan (3/1968) và được đơn vị C2 trang bị dùng trong những năm kháng chiến tại chiến trường Khu II
Lưỡi cúp
Lưỡi cúp
Lưỡi lê
Lưỡi lê
Bình đồng nhựa
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông Dương Tuấn Hiệp (Thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) dùng bình đông này đựng nước uống trong những năm đi lại, hoạt động cách mạng trong thành phố
Thùng đựng tài liệu
Thùng đựng tài liệu
Ca nhôm
Ca nhôm
Hủ sành thấp
Hủ sành thấp
Lưỡi cuốc bàn
Lưỡi cuốc bàn
Rựa
Rựa
Khăn rằn
Đây là chiến lợi phẩm thu được của giặc, cá nhân đồng chí sử dụng một thời gian dài trong chiến tranh
Tấm khăn dù
Đồng chí Nguyễn Văn Chi – nguyên Bí thư Huyện ủy Hòa Vang sử dụng trong thời gian tham gia hoạt động cách mạng tại khu căn cứ Huyện ủy.
Huy hiệu quyết thắng (Trần Thị Sót)
Đồng chí Trần Thị Sót – Đại đội phó C2, Khu II Hòa Vang được tặng thưởng khi tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân năm 1968.
Huy hiệu quyết thắng
Chiến dịch 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không năm 1972
Lon guygo
Lon guygo
Bình đông nhựa
Bình đông nhựa
Bộ dụng cụ khám bệnh
Bộ dụng cụ khám bệnh
Kiềm
Đ/c Tán Tám đã 6 lần sử dụng kiềm này cắt kẽm gai phá hàng rào ấp chiến lượt của Mỹ -ngụy (1962-1968)
Huân chương lao động đặc công
Huy hiệu đón nhận danh hiệu AHLLVTND của D2 (V25), tặng đồng chí Nguyễn Văn Hay
Nắp hầm bí mật
Đồng chí Trần Thanh Bình – Khu đội trưởng Khu II Hòa Vang dùng ngụy trang hầm bí mật, hoạt động bí mật trong vùng địch trong kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng (29/3/1975).
Súng K54
Đ/c Cao Văn Lợi-Nguyên Bí thư xã Hòa Lương (Hòa Khương ngày nay) giao cho đ/c Tâm khẩu súng này để làm nhiệm vụ diệt ác ôn từ năm 1971-1975.
Máy bộ đàm PRC
Máy bộ đàm PRC
Ca uống nước
Năm 1979, một đồng chí thủ kho lương thực (Ga Diên Sơn, thôn Dương Sơn thuộc xã Hòa Châu và xã Hòa Tiến) dùng vỏ đạn M72 của Mỹ nhặt được tại cánh đồng thôn Yến Nê, xã Hòa Tiến làm thành ca uống nước.
Áo trấn thủ
Cán bộ Huyện uỷ Hoà Vang dùng mặc giữ ấm cơ thể khi đi lại, hoạt động cách mạng trong mùa đông trong những năm 1930 - 1945
La bàn
Đồng chí Hoàng Thị Vân – Đại đội phó đơn vị Q84-H16 (C2 bây giờ) thu được của quân địch tại trận đánh đồn An Tân (tháng 6/1968)
Kiếm (Nguyễn Xiên)
Ông Nguyễn Xiên (Khương Mỹ) dùng kiếm này cùng với nhân dân Tổng An Phước xuống đường giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8-1945
Xà beng
Ông Lê Tiến dùng đào hầm bí mật nuôi dấu cán bộ trong kháng chiến chống Pháp (1946)
Kiếm (Lâm Quang Thụ)
Ngày 23/8/1945, ông Lâm Quang Thự - Chủ tịch UBND CMLT huyện Hòa Vang trao kiếm này cho ông Đỗ Kiệm - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân huyện Hòa Vang sử dụng bảo vệ chính quyền trong những ngày đầu mới thành lập
THƯ VIỆN TƯ LIỆU
Lưu trữ lịch sử Đảng bộ Hòa Vang
Lịch sử lực lượng vũ trang Huyện Hòa Vang (1945-2020)
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Hòa Vang là một trong những chiến trường trọng điểm của miền Trung và cả nước. Nơi đây, địch thường xuyên càn quét, lấn chiếm, thiết lập tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng - căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất miền Trung của chúng và làm bàn đạp đánh chiếm các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, tiêu diệt phong trào cách mạng của nhân dân ta. Chính vì vậy, nơi đây thường xuyên diễn ra những cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, bằng sức mạnh của chiến tranh nhân dân mà lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân cách mạng làm nòng cốt, quân và dân Hòa Vang đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, lập nhiều chiến công vang dội, góp phần giải phóng quê hương, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG XÃ HÒA LIÊN (1930-1975)
Ban Chấp hành Đảng bộ xã Hòa Liên xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ đạo quý báu của tiểu ban Lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hòa Vang… và sự giúp đỡ, đóng góp nhiệt tình đầy trách nhiệm của các đồng chí: Trần Văn Hoạt, Lê Văn Cẩm, Hồ Kỳ Hương, Hồ Kỳ Mưu, Ngô Thanh Tịnh, Nguyễn Như Cần, Võ Bá Cừ, Bùi Đức Sau, Lê Phúc Ánh, Phạm Thị Sương, Bùi Thị Nha, Trần Trung Long, Nguyễn Ngọc Bé, Nguyễn Thị Khương, Hà Thúc Hoa, Ngô Quang Trường, Ngô Thanh Nhị, Ngô Văn Thuần, Hồ Văn Chinh, Ngô Hích, Ngô Tấn Tỉnh, Hà Thúc Hiền, Mai Phước Cảnh, Nguyễn Thanh Ngọc, Lê Xuân Hoàng, và các đồng chí khác... cho tập Lịch sử này ra đời.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ HÒA KHƯƠNG ( 1975 - 2015 )
Hòa Khương là một trong những địa phương giàu truyền thống văn hóa và lịch sử. Lịch sử mãi ghi nhớ về người con ưu tú của Tiên sĩ Đỗ Thúc Tịnh, di tích lịch sử Văn chỉ La Châu, trận đầu đánh Mỹ tại Gò Hà… là những giá trị lịch sử trường tồn làm rạng danh sử sách của dân tộc cũng như của xứ Quảng.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG HÒA KHƯƠNG (1930-1975)
Trong quá trình đấu tranh cách mạng, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo, nhân dân xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã đóng góp máu xương và công sức, tinh thần và vật chất vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần viết nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG XÃ HÒA CHÂU ( 1930 - 1975 )
Xã Hòa Châu là một trong 11 xã của huyện Hòa Vang anh hùng. Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, đặc biệt là từ khi có Đảng lãnh đạo, nhiều người con của quê hương Hòa Châu đã dám xả thân, hy sinh quên mình vì quê hương đất nước, cả trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ HÒA CHÂU (1975-2015)
Từ khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, phát huy truyền thống yêu nước của địa phương qua các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng bộ và nhân dân xã Hòa Châu đã không ngừng nỗ lực, khắc phục khó khăn để bảo vệ và xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh, văn minh, hiện đại.
Xem chi tiếtLịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Bắc (1930-2005)
Hoà Bắc là một xã miền núi phía Tây bắc của huyện Hoà Vang, là một trong những xã sinh sau đẻ muộn theo Quyết định số 79 ban hành ngày 23.9.1981 của Hội đồng Bộ trưởng nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy là xã sinh sau đẻ muộn của huyện Hoà Vang về mặt hành chính song từ xưa các tên đất, tên làng tại đây đã đi vào lịch sử dân tộc mỗi khi nhắc đến thượng nguồn Cu Đê, về con đường quan báo Hải Vân…
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ VỀ BIA TƯỞNG NIỆM LIỆT SỸ LÊ VĂN TOÀN
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Mỹ thay Pháp độc chiếm miền Nam Việt Nam. Chúng dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thiết lập bộ máy ngụy quân ngụy quyền, ra sức thực hiện chính sách “Tố cộng, diệt cộng”. Đặc biệt, với Luật 10/59, Mỹ - Diệm đã chính thức tỏ rõ dã tâm “không thi hành Hiệp định Giơnevơ”, “không thực thi tổng tuyển cử” và “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, tiến hành đàn áp, khủng bố dã man những người kháng chiến cũ, cơ sở cách mạng của ta.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ VỀ MỘ THỐNG CHẾ LÊ VĂN HOAN
Lê Văn Hoan sinh ra trong thời kì tình hình đất nước rối ren, bị chia cắt bởi nội chiến. Từ giữa thế kỷ 18, người nông dân bị bần cùng và họ đã đứng lên khởi nghĩa cả ở Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong. Ở đằng trong, chúa Nguyễn Phúc Khoát lại lười nhác, ham hưởng lạc, bỏ bê triều chính. Các quan lại cấp dưới cũng học theo thói xa xỉ đó, nạn tham ô, hối lộ cũng vì thế mà ngày càng nghiêm trọng. Trong bối cảnh tranh chấp quyền lực cuối thời Lê Trung Hưng như vậy, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi phát từ ấp Tây Sơn (Bình Định) tập hợp lực lượng đứng lên khởi nghĩa, quân Tây Sơn nhận được sự ủng hộ của nhân dân sau khi lật đổ chúa Nguyễn ở đằng Trong, chúa Trịnh ở đằng Ngoài, đánh tan liên quân Xiêm – Nguyễn thành lập nhà Tây Sơn.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ BIA TƯỞNG NIỆM CÁN BỘ, CHIẾN SĨ, ĐỒNG BÀO HY SINH ĐÊM 13/7/1972 TẠI THÔN NAM SƠN, XÃ HÒA TIẾN
Giai đoạn 1969-1973, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam thay cho quân đội viễn chinh Mỹ. Mùa Xuân năm 1971, quân và dân ta với sự phối hợp của quân và dân Lào anh em, bằng một đòn phản công chiến lược sắc sảo, đã bẻ gãy cuộc hành quân đầy tham vọng mang tên “Lam Sơn 719”, làm nên một chiến thắng lẫy lừng - Chiến thắng Ðường 9 - Nam Lào, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng miền Nam bước vào cuộc tiến công chiến lược năm 1972.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ BIA CHIẾN TÍCH ĐÈO ĐẠI LA
Cách mạng Tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời. Với lý do giải giáp khoảng 4 vạn quân đội Nhật bại trận, từ cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã kéo vào miền Bắc Việt Nam, từ vĩ tuyến 16 trở ra (bao gồm cả thành phố Đà Nẵng và bắc Quảng Nam, đến bờ sông Cẩm Lệ). Ở miền Nam hơn một vạn quân Anh đổ bộ từ vĩ tuyến 16 trở vào. Mưu đồ của bọn chúng là nhân đó tiêu diệt Đảng ta, phá tan Mặt trận Việt Minh, giúp bọn phản động trong nước lật đổ chính quyền nhân dân, dựng lên một chính phủ làm tay sai cho đế quốc.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ CHỨNG TÍCH TỘI ÁC GIÁNG ĐÔNG
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta, kết thúc 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân và hàng nghìn năm áp bức của chế độ phong kiến, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Nhưng với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, ngày 23/9/1945 được sự giúp đỡ của quân đội Anh, thực dân Pháp tiến công Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp đã liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải phá bỏ công sự trong thành phố Hà Nội, giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng. Ở Đà Nẵng, quân Pháp trang bị vũ khí hiện đại âm mưu chiếm Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công các tỉnh Bình Trị Thiên, Trung Lào, chiếm đường đèo Hải Vân. Thực dân Pháp liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét vào các làng ra sức cướp của, đốt nhà, bắt lính trên địa bàn huyện Hòa Vang. Nhằm thực hiện âm mưu tiêu diệt lực lượng, phá hoại phong trào kháng chiến của ta, đồng thời cũng nhằm xây dựng một vành đai sắt ở ngoại ô phía Nam bảo vệ khu căn cứ Đà Nẵng; thực dân Pháp đã cho thiết lập ở đây một hệ thống đồn bốt dày đặc trên các trục đường chính hoặc gần khu căn cứ, thôn xóm.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ BIA DI TÍCH BẾN SUỐI
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, nổ phát súng đầu tiên vào Đà Nẵng tháng 9 năm 1858, cấu kết với bọn phong kiến cường hào gian ác, lập lên một số bộ máy chính quyền tay sai đàn áp nhân dân vô cùng dã man. Ruộng đất tập trung vào bọn địa chủ, nông dân phải đi làm thuê cấy mướn, “ăn đói, mặt rách”. Có 90% mù chữ, phần lớn là phụ nữ. Nạn sưu cao thuế nặng của bọn quan lại đặt ra nhiều loại thuế để vơ vét tiền của nhân dân, ốm đau không tiền mua thuốc, có tai có miệng, thấy phải trái nhưng không dám hé răng, đành nuốt hận chịu nhục. Tất cả các phong trào đấu tranh diễn ra đều thất bại, bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, bởi không có sự lãnh đạo của tổ chức nào cả.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ VỀ BIA CHIẾN TÍCH TRẬN ĐÁNH TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI THÔN PHƯỚC THÁI
Trước tình hình quân địch đổ vào Đà Nẵng đánh chiếm một số địa bàn, Quân khu ủy nhận định, chúng sẽ thực hành đánh vào các vùng phụ cận của Thành phố, sau đó làm bàn đạp tiếp tục tiến công đánh chiếm vào địa bàn xã Hòa Nhơn là vùng ven thành phố, có đồi núi, nhiều lợi thế cho chiến thuật trong 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô năm 1966 và 1967. Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị vạch rõ: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nổ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả 2 miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa”. Thực hiện chỉ thị trên, Thường vụ Khu ủy Khu V quyết định chọn Đà Nẵng làm điểm trọng tâm của cuộc tổng tiến công và nổi dậy toàn Khu. Để phục vụ cuộc tiến công và nổi dậy ở Đà Nẵng, tháng 10.1967, Đặc Khu ủy Quảng Đà quyết định chia Hòa Vang thành 3 khu gồm: Khu I, khu II, và Khu III. Khu II gồm xã Hòa Lợi, Hòa Thái, Hòa Lương, Hòa Hưng, Hòa Bình và các xã Hòa Thịnh, Hòa Phú (tức địa bàn của xã Hòa Nhơn hiện nay)1. Đảng bộ Khu II do đồng chí Lê Tích làm Bí thư, đồng chí Phùng Văn Thành làm khu đội trưởng. Huyện ủy Hòa Vang chỉ đạo các chi bộ Đảng, các lực lượng chính trị, vũ trang sẵn sàng phối hợp với quân chính quy tiến công vào Đà Nẵng khi có lệnh. Lực lượng du kích các xã có nhiệm vừa đánh địch để bảo vệ địa bàn, thôn, xóm, vừa tham gia đấu tranh chính trị.
Xem chi tiếtBIA CHIẾN TÍCH GÒ HÀ
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Mỹ thay Pháp độc chiếm miền Nam Việt Nam. Chúng dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thiết lập bộ máy ngụy quân ngụy quyền, ra sức thực hiện chính sách “Tố cộng, diệt cộng”. Tháng 5 năm 1957, Diệm tuyên bố tại Washington: “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến tận vĩ tuyến 17”. Đầu năm 1965, đứng trước nguy cơ thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và sự rệu rã thảm hại của bọn ngụy quân ngụy quyền miền Nam, đế quốc Mỹ quyết định liều lĩnh đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam, bắt đầu triển khai một chiến lược chiến tranh mới gọi là “chiến tranh cục bộ” trên toàn miền Nam, đồng thời đẩy mạnh “chiến tránh phá hoại” ở miền Bắc.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ BIA CHIẾN TÍCH BÀU DÀI BÀ DIÊN
Đầu năm 1965, đứng trước nguy cơ thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và sự rệu rã thảm hại của bọn ngụy quân ngụy quyền miền Nam, đế quốc Mỹ quyết định liều lĩnh đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam, bắt đầu triển khai một chiến lược chiến tranh mới gọi là “chiến tranh cục bộ” trên toàn miền Nam, đồng thời đẩy mạnh “chiến tranh phá hoại” ở miền Bắc. Đà Nẵng và Hòa Vang trở thành mục tiêu đổ bộ và tấn công đầu tiên của quân xâm lược Mỹ. Ngày 08/3/1965 những đơn vị quân viễn chinh xâm lược Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng. Từ tháng 4/1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân xâm lược miền Nam nước ta. Đà Nẵng - Hòa Vang thành một chiến trường trọng điểm1. Cuối năm 1965, số quân Mỹ ở Hòa Vang đã lên tới 13.000 tên, đóng rải rác ở 49 cứ điểm (lúc này toàn tỉnh Quảng Đà có khoảng 30.000 tên với 80 cứ điểm).
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ BIA DI TÍCH LỊCH SỬ CHI BỘ PHAN BÔI
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, từ những năm 1946-1947, cả nước chung tay sôi nổi thi đua thực hiện ba nhiệm vụ cấp bách là chống giặc đói, chống giặc dốt và chống giặc ngoại xâm. Cùng với các địa phương khác tại huyện Hòa Vang, Thanh Thái và Thanh Sơn1 cũng quyết tâm thực hiện phong trào ba nhiệm vụ cấp bách, trong đó chống giặc ngoại xâm vẫn là vấn đề nóng bỏng và nhạy cảm nhất. Ngày 12 tháng 12 năm 1946, Đại tá Laroque - Tư lệnh quân đội Pháp miền Trung Đông Dương đến Đà Nẵng lập bộ chỉ huy ở mặt trận này. Cao ủy Pháp tại Đông Dương D'Argenlieu cũng đến Đà Nẵng kiểm tra tình hình và ngang nhiên tuyên bố: "Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ của Pháp". Không chỉ ở Đà Nẵng mà nhìn chung trên bình diện cả nước, Pháp ngày càng lấn tới, âm mưu trở lại xâm lược nước ta ngày càng lộ rõ, bất chấp thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc Kháng chiến: "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!". Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Quảng Nam bước vào cuộc chiến tranh vệ quốc lần này với tư thế hiên ngang của những công dân một nước độc lập. Kẻ thù xâm lược đang trở lại rất sát luỹ tre làng, đang chuẩn bị vượt qua bờ bắc sông Cẩm Lệ, người Quảng Nam nói chung, người dân Thanh Sơn và Thanh Thái nói riêng đang nhất tề đứng lên sẵn sàng xung trận và sẵn sàng chịu đựng gian khổ.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ “BIA CHIẾN THẮNG BÀU NĂNG”
Trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Hoà Vang đã trực tiếp đánh giặc, hình thành trận địa bao vây Đà Nẵng, góp phần tích cực và có hiệu quả cho những trận thắng của quân ta. Giữa muôn vàn khó khăn và thiếu thốn, quân và dân Hoà Vang đã làm nên những thắng lợi quân sự tiêu biểu: chiến thắng Hải Vân lần 01 (28/2/1947), chiến thắng Hải Vân lần 02 (25/5/1948), chiến thắng Hải Vân lần 03 (24/01/1949). Những năm 1947-1949, trên tuyến đường ven ranh núi từ đèo Hải Vân đến Đại Lộc, chúng đóng các đồn bót thành một vòng cung dài từ Phò Nam, Quan Nam, Gò Ông Tự đến Thái Lai, Túy Loan, Gò Cà… Một số lô cốt được xây dựng dọc theo tỉnh lộ được xây dựng nhằm kìm kẹp dân như lô cốt Phú Hòa, đồn Gò Bui, lô cốt Dương Hỏa, Ái Nghĩa, chốt Núi Lở…Dựa vào hệ thống đồn bốt, lô cốt dày đặc ấy, thực dân Pháp hy vọng sẽ khống chế, đánh phá phong trào cách mạng ở Hòa vang nói riêng và Quảng Nam - Đà Nẵng nói chung một cách có hiệu quả. Thời kỳ này thực dân Pháp thường xuyên thực hiện các cuộc hành quân càng quét lớn nhằm xua đuổi đồng bào về ở tập trung xung quanh đồn bốt của chúng để dể bề kịp kẹp, kiểm soát, đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi dân.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ VĂN CHỈ LA CHÂU GẮN VỚI CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP TIẾN SĨ ĐỖ THÚC TỊNH
Đầu thế kỷ XIX, nước ta là một nước Phong kiến do triều Nguyễn cai trị. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, đóng đô tại Phú Xuân - Huế; đến Tự Đức- đời vua thứ 4 của triều Nguyễn (triều Nguyễn có 13 đời vua) nho giáo vẫn còn đang hưng thịnh, là đạo chính được nhân dân ta suy tôn, tinh thần tôn sư trọng đạo luôn được đề cao. Năm thứ 3 đến năm thứ 5 năm Tự Đức (1850 – 1852) Văn chỉ La Châu được tạo lập, là hình thái Văn miếu cấp huyện/phủ, thời kỳ phong kiến triều Nguyễn – Nho giáo.
Xem chi tiếtCHUYÊN ĐỀ BIA CHIẾN TÍCH TRUNG ĐỘI NỮ LÊ THỊ HỒNG GẤM ĐẠI ĐỘI 2 KHU II HÒA VANG
Ngày 08/03/1965 đế quốc Mỹ đưa quân Viễn chinh trực tiếp xâm chiếm đổ bộ vào Đà Nẵng tại bãi biển Nam Ô – Xuân Thiều thuộc địa phận Hòa Vang. Từ đó Hòa Vang trở thành vành đai chống Mỹ. Sau thắng lợi cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của ta, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào đàm phán hiệp định Pari tháng từ tháng 5/1968 đến tháng 01/1973. Giai đoạn 1969-1972, trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chúng ra lệnh tổng động viên, bắt lính, đôn quân và hiện đại hóa quân ngụy với mục tiêu cụ thể là: xây dựng quân ngụy thành một đội quân tay sai hiện đại, từng bước thay thế được vai trò của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam và là đội quân xung kích ở Đông Dương của Mỹ. Biện pháp chủ yếu là “bình định nông thôn”, với chính sách tiếp tục chiến tranh ở cường độ ác liệt, đẫm máu hơn, không những tiêu diệt lực lượng cách mạng mà còn khủng bố và đàn áp nhân dân, đánh mạnh vào lực lượng quần chúng, làm cho chiến tranh cách mạng mất chỗ dựa. Cùng với quân và dân toàn Đặc khu ủy Quảng Đà, Đảng bộ 3 Khu và nhân dân Hòa Vang ra s c xây dựng, củng cố các cơ sở Đảng và lực lượng cách mạng; tích cực phối hợp và hưởng ng các hoạt động tiến công và nổi dậy do Đặc Khu ủy phát động trong các chiến dịch Xuân-Hè năm 1972. Qua đó đã phá v hàng chục cây số hàng rào điện tử “Mac-na-ma-ra”, chọc thủng tuyến phòng thủ kiên cố và hiện đại của địch ở vòng ngoài, tạo ra các hành lang đi lại thuận lợi giữa đồng bằng với căn c miền núi.
Xem chi tiếtBIA CHIẾN TÍCH ĐỒN LỆ SƠN
Bước vào năm 1952, ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng thực dân Pháp vẫn tiếp tục đẩy mạnh chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, nhất là ở các vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, gây cho ta nhiều khó khăn. Tại huyện Hòa Vang, từ năm 1950, trên địa bàn Hòa Vang, thực dân Pháp tăng cường xây dựng hệ thống tháp canh, củng cố lại hệ thống đồn bót phòng ngự kiên cố, lập thêm một số bót gác trên những đoạn đường quan trọng. Tất cả các hệ thống đồn bót có hệ thống ngầm thông ra ngoài. Bên cạnh các đồn chính do bọn lính Pháp và Lê Dương chiếm đóng, chúng lập ra các đồn phụ giao cho bọn ngụy quân canh giữ, tạo liên hoàn, ứng cứu cho nhau.
Xem chi tiếtBỘ BẢN ĐỒ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN HÒA VANG
BỘ BẢN ĐỒ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HUYỆN HÒA VANG
Xem chi tiếtQUẢNG XƯƠNG - HÒA VANG THẮM TÌNH KẾT NGHĨA
Lịch sử của dân tộc Việt Nam từ ngày dựng nước và giữ nước đến nay đã khẳng định: Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân là một trong những nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công" Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu chân lý ấy nên ngay từ đầu cuộc kháng chiến vì đại nghĩa cứu dân tộc, Đảng đã nêu phương: Xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết giữa hai miền Nam – Bắc. Ngày 12/3/1960, hai tỉnh Thanh Hóa và Quảng Nam, sau đó lần lượt các huyện của hai tỉnh đã làm lễ kết nghĩa. Tháng 5 năm 1960, Lễ kết nghĩa giữa hai huyện Quảng Xương và Hòa Vang được tiến hành. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, là “mốc son” trong lịch sử huyện, thể hiện sâu nặng chủ nghĩa đạo đức, lý chí, tinh thần to lớn thôi thúc, động viên, cổ vũ nhau con mắt con rạ sự gắn kết keo sơn, chí viện, hỗ trợ, bù đắp cho nhau, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thực hiện song đôi hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, tiến hành cách mạng giải phóng ở Miền Nam.
Xem chi tiếtCĂN CỨ HUYỆN ỦY HÒA VANG
Các cuộc kháng chiến vệ quốc đã để lại cho dân tộc Việt Nam ta nhiều bài học vô cùng quý giá, trong đó, bài học về xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến có ý nghĩa quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương” và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xâydựng căn cứ địa: “Thắng lợi phải đi đôi với trường kì, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt càng phải huy động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa…”1. Kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trên cơ sở thực tiễn của địa phương, vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng được Huyện ủy Hòa Vang đặt lên hàng đầu và trở thành một trong các vấn đề chỉ đạo chiến lược quan trọng nhất. Căn cứ Huyện ủy Hòa Vang được hình thành từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và phát triển mạnh mẽ, thực sự trở thành đầu não, thủ phủ kháng chiến của phong trào cách mạng Hòa Vang trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem chi tiếtLịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Tiến (1945-2005)
Theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Hoà Vang, trên cơ sở nhận thức đúng mức về vai trò của giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, thấy rõ quá khứ không hoàn toàn là dĩ vãng một đi không trở lại, Ban Thường vụ Đảng ủy xã tổ chức biên soạn và phát hành cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Hoà Tiến (1945 – 2005) nhân kỷ niệm 11 năm thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương và 33 năm ngày quê hương Hoà Tiến được hoàn toàn giải phóng, cùng cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ chọn thời điểm mở đầu cho nội dung cuốn sách là năm 1945 chứ không phải năm 1928 như cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Hoà Vang là bởi so với các tổng khác trong huyện thì ở tổng Thanh An và đặc biệt trên đất Hoà Tiến ngày nay, phong trào đấu tranh cách mạng bắt đầu muộn hơn: số cán bộ tham gia cách mạng khi ấy Đảng chưa giành được chính quyền có nhưng không nhiều, chủ yếu quê Hoà Phước, còn quê Hoà Tiến chỉ có đồng chí Đặng Hoàng… là đảng viên và là cán bộ Việt Minh giai đoạn tiền khởi nghĩa; Thanh An cũng không phải là địa phương đi đầu trong việc cướp chính quyền tháng 8 năm 1945 – tất nhiên không phải đi sau cùng. Còn chọn thời điểm kết năm 2005 làm điểm dừng cho nội dung cuốn sách là nhằm thể hiện một quan niệm hết sức đúng đắn về truyền thống của Jean Jaurès từng được long trọng nhắc lại giữa diễn đàn Đại hội của Quốc tế thứ hai năm 1920, lúc Nguyễn Ái Quốc đang cùng với những đồng chí của mình tích cực đấu tranh để chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Pháp, ghi nhận Quốc tế thứ ba: "Trung thành với truyền thống, nghĩa là phải đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó". Có thể nói, kế thừa truyền thống yêu nước thương quê cần cù lao động của ông cha xưa, tiếp bước thế hệ trong kháng chiến, “đem hết sức mình tiến về phía tương lai”, đâu không phải muốn như thế nào cũng thuận buồm xuôi gió, nhưng mọi người dân hôm nay xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, người Hoà Tiến ngay từ đầu và đang hăm hở với tinh thần tự giác trách nhiệm rất mới, có nội dung mới.
Xem chi tiếtLịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Sơn (1930-2010)
Hoà Sơn là một xã trung du, nằm ở vùng Tây Bắc của huyện Hoà Vang. Theo chiều dài của lịch sử dân tộc, đặc biệt là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh lãnh đạo, nhân dân Hoà Sơn, đã đoàn kết gắn bó keo sơn, chiến đấu hy sinh quên mình vì quê hương đất nước, cả trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là cho thế hệ trẻ của xã, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư “Về tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” và Chỉ thị 08-CT/TU, ngày 31-3-2003 của Thường vụ Thành uỷ “Về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ và giáo dục truyền thống cách mạng”, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ Hòa Vang, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Hoà Sơn đã tiến hành sưu tầm, biên soạn Lịch sử đấu tranh cách mạng xã Hoà Sơn(1930 - 2010), nhằm ghi lại một cách trung thực và sinh động những gian khổ hy sinh, anh hùng, bất khuất, góp phần xây dựng nên truyền thống “Hoà Vang đau thương mà anh dũng”, sự đoàn kết gắn bó của toàn dân, giữa lương và giáo, là niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng của nhân dân Hoà Sơn qua các thời kỳ cách mạng, cả hôm qua và hôm nay.
Xem chi tiếtLịch sử Đảng bộ xã Hòa Phước (1975-2015)
Là một xã đồng bằng nằm ở phía đông nam của huyện Hòa Vang, là cửa ngõ phía nam của thành phố Đà Nẵng, Hòa Phước từng là mảnh đất đứng chân trong hoạt động của các phong trào cách mạng và đấu tranh yêu nước của nhân dân xứ Quảng qua các thời kỳ lịch sử. Từ xưa đến nay, tinh thần yêu nước, ý chí chống giặc ngoại xâm cũng như khát vọng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp chưa bao giờ phai mờ trong tâm trí của người dân Hòa Phước, những giá trị văn hóa, lịch sử đó càng được tô bồi thêm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Xem chi tiếtLịch sử Đấu tranh cách mạng xã Hòa Phước (1930-1975)
Qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Một lớp lớp người dân các đồng chí cán bộ,đảng viên, cơ sở cách mạng... đã anh dũng chiến đấu và hy sinh trên quê hương Hòa Phước. Cũng chính nơi đây, từng bờ tre, góc ruộng, từng cây cầu hay mỗi một khúc sông đều ghi dấu chiến công, thấm đẫm máu xương của những người con Hòa Phước cũng như các đồng chí từ các miền quê khác nhau về đây tham gia chiến đấu và anh dũng hy sinh với một tâm nguyện duy nhất: "thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Xem chi tiếtLịch sử Đảng bộ xă Ḥòa Phú (1975-2015)
Hòa Phú là một xã phía Tây của huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, có địa hình vừa trung du, vừa là miền núi. Phía đông giáp xã Hòa Phong, phía nam giáp xã Hòa Khương, phái bắc giáp xã Hòa Nhơn và Hòa Ninh; phía tây giáp xã Ba (huyện Đông Giang), với tổng diện tích tự nhiên 90 km2, trong đó đồi núi chiếm 70% diện tích.
Xem chi tiếtLịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Phong (1954-1975)
Sau khi xuất bản tập I "Hòa Phong =Lịch sử đấu tranh cách mạng 193(0- I954" (sơ thảo), Đảng ủy xã Hòa Phong ra nghi quyết khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo và tiếp tục xuất bản tập II "Hòa Phong~lịch sử đấu tranh cách mạng 1954 1975" (sơ thảo) nhằm phản ánh một thời kỳ lịch sử đáng ghỉ nhớ và giáo. Đục truyền thống cách mạng ở địa phương.
Xem chi tiếtLịch sử đấu tranh cách mạng xã Hòa Phong (1930-1954)
Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân. Hòa Phong là lịch sử của những tháng năm đầy gian truân, thử thách và rất anh dũng kiên cường; mà mỗi trang, mỗi đoạn đều được viết bằng máu và mồ hôi nước mắt của nhiều thế hệ, trong đó chiến công trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là hào hùng nhất, là điểm son chói lọi nhất trong lịch sử quê hương.
Xem chi tiếtDự thảo Lịch sử Đảng bộ xã Hòa Phong lần 3 hoàn chỉnh ngày 3.12.19
Hòa Phong là một xã trung tâm của huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, có địa hình vừa đồng bằng, vừa trung du. Phía đông giáp xã Hòa Tiến, phía nam giáp xã Hòa Khương, phía tây giáp xã Hòa Phú, phía bắc giáp xã Hòa Nhơn (cùng huyện). Hòa Phong đã trải qua các thời kỳ lịch sử từ buổi đầu lập xã đến khi tiến hành các cuộc kháng chiến chống kẻ thù, bảo vệ quê hương, anh dũng và kiên cường nhất là trong giai đoạn từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; và trong suốt quá trình này, Hòa Phong thể hiện rõ phẩm chất anh hùng cách mạng.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG XÃ HÒA NINH (1930-1975)
Ban chỉ đạo nội dung, Ban sưu tầm tư liệu và Ban biên soạn xin chân thành cám ơn các đồng chí: Ngô Chí Thức, Diêm Thanh Long, Trần Đình Dưỡng, Lê Văn Bách, Lê Tấn Thời, Nguyễn Thị Thí, Võ Lục, Bùi Đức Nhì, Ngô Thị Huệ, Ngô Thí, Nguyễn Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Ngọc, Nguyễn Thành Tân, Lê Thị Ngọa, Huỳnh Thị Nhì, Lê Thị Mót, Phạm Thị Ninh, Nguyễn Cường, Nguyễn Kim, Lê Thị Kéo, Lê Thị Phòng, Lê Văn Hồng, Lê Minh Cảnh, Phạm Phú Sau, Nguyễn Ban, Nguyễn Phái, Huỳnh Phiên, Trương Thị Cho, Lữ Thị Bửu, Hồng Thị Sau, Lê Thị Tàm, Bùi Thị Phương, Bùi Khánh... đã đóng góp nhiều ý kiến, hồi ký, tư liệu quý giá để chúng tôi hoàn thành tập sách này.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ HOÀ NINH GIAI ĐOẠN (1975 - 2015)
Hòa Ninh là một xã nằm ở vùng căn cứ địa cách mạng Tây Bắc Hòa Vang, được thành lập theo Quyết định số 79 ban hành ngày 23-9-81 của Hội Đồng Bộ trưởng Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là từ ngày có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dân xã Hòa Ninh ngày càng phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường. Trong trang vàng lịch sử của xã mãi mãi còn lưu danh những anh hùng liệt sĩ, những cán bộ đảng viên và cơ sở cách mạng kiên trung, bất khuất và nhiều tấm gương của những người con quê hương tận trung với nước, tận hiếu với dân, đã anh dũng hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc, cho quê hương trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN XÃ HÒA NHƠN (1930-1975)
Hoà Nhơn nằm về phía tây của huyện Hoà Vang, | là một xã có địa hình nhiều đồi, núi cao nên có vị trí chiến lược về quân sự. Vì thế, thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ đều thiết lập tại đây nhiều cứ điểm, đồn bót quan trọng để tạo vành đai bảo vệ căn cứ quân sự Đà Nẵng.
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ HÒA NHƠN (1975-2015)
Hòa Nhơn là một xã thuộc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, có địa hình bán sơn địa, vừa đồng bằng, vừa trung du. Phía Đông giáp phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ; phía Tây giáp xã Hòa Phú, Hòa Ninh; phía Nam giáp xã Hòa Phong; phía Bắc chạy dọc theo đồi núi Phước Tường giáp với xã Hòa Sơn và phường Hòa Khánh Nam (quận Liên Chiểu). Hòa Nhơn đã trải qua các giai đoạn lịch sử cùng với lối sống hiền hòa, tự do đấu lập và có tiến trình cách mạng sôi nổi trong chiến đấu kháng đế thù, bảo vệ quê hương; đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong các giai đoạn này, Đảng bộ và nhân dân xã Hòa Nhơn luôn kiên trung, bất khuất, nhẫn hậu, thủy chung và khẳng định phẩm chất anh hùng cách mạng
Xem chi tiếtLỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ HÒA LIÊN (14,5x20,5)
"Hòa Liên là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa của huyện Hòa Vang. Lịch sử đấu tranh yêu nước và cách mạng vùng Tây Bắc Hòa Vang mãi mãi ghi nhớ các nhân vật lịch sử như Hồ Như Học (tức Thống Hay), Tú Vy (Lê Quang Vy); các anh hùng Lực lượng vũ trang như Ngô Thị Huệ, Đặng Đình Vân, Ngô Tấn Tình, Đỗ Châu Sa, Trần Thanh Lợi, Nguyễn Bá Phát; các địa danh như: Vân Dương, Quan Nam, Trung Sơn, Trường Định, Hương Phước, Hiền Phước, Tân Ninh, đồn Lệ Mỹ... tất cả tên đất, tên người ấy đã đi vào sử sách với những dấu ấn khó phai mờ.
Xem chi tiếtLịch sử đấu tranh cách mạng Huyện Hòa Vang (1928-1975)
Nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương là một nhiệm vụ hết sức cần thiết của cách mạng, nhất là trong lĩnh vực tổ chức, tư tưởng, văn hóa, và khoa học kỹ thuật. Để thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam- Đà Nẵng về công tác giáo dục truyền thống cho nhân dân, cho thanh niên và thế hệ trẻ, Huyện ủy Hòa Vang đã tiến hành nhiều công việc cụ thể nhằm tiến tới hoàn thành các công trình biên soạn lịch sử địa phương. Trước mắt là cố gắng hoàn thành các công trình biên soạn “lịch sử đấu tranh cách mạng của huyện Hòa Vang” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm các giai đoạn lịch sử chống đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, chống Mỹ - ngụy, và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để thiết thực chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm 1985, chúng tôi xuất bản bộ lịch sử nói trên, bao gồm giai đoạn từ 1928 – 1954. Đây là cuốn sử đầu tiên của Hòa Vang, do Ban sưu tầm lịch sử Đảng huyện chuẩn bị tư liệu, Ban lịch sử địa phương và chuyên ngành Viện Sử học (Ủy ban Khoa học Việt Nam) trực tiếp giúp đỡ biên tập với sự đóng góp ý kiến và cung cấp nhiều tư liệu quý của các đồng chí hoạt động lâu năm ở huyện ta trước đây. Tập sử này được viết theo những phương pháp khoa học lịch sử, dựa trên tư liệu đã có, và trong những điều kiện khó khăn nhiều mặt về thời gian cũng như tình trạng thiếu sự hoàn hảo của các tư liệu. Nhưng với tinh thần không quá cầu toàn và nhiệt tâm phục vụ lợi ích chung, tuy tập I của bộ lịch sử này còn hạn chế nhiều mặt, chúng tôi vẫn mạnh dạn cho nó ra mắt toàn thể đồng bào, đồng chí. Tác phẩm này sẽ là cơ sở ban đầu mở ra triển vọng cho công tác biên soạn lịch sử của huyện sau này. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc sự quan tâm giúp đỡ thiết thực và trực tiếp của Viện Sử học và Ban nghiên cứu lịch sử địa phương của tỉnh, cảm ơn các đồng chí hoạt động cách mạng lâu năm và nhiều đồng chí quan tâm giúp đỡ, động viên chúng tôi. Cuốn sách này chắc chắn còn nhiều thiếu sót không tránh khỏi, mong được sự bổ sung, chỉ bảo của tất cả các đồng chí để dần dần huyện nhà có một bộ sử tốt hơn. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sử đầu tiên này của Hòa Vang với bạn đọc đông đảo gần xa.
Xem chi tiếtTHƯ VIỆN HÌNH ẢNH
Những khoảnh khắc lịch sử qua ảnh
THƯ VIỆN VIDEO
Khám phá lịch sử qua video
Căn cứ Huyện ủy Hòa Vang - Cái nôi của phong trào cách mạng
Căn cứ Huyện ủy Hòa Vang là một địa danh lịch sử tiêu biểu gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng của quân và dân Hòa Vang nói riêng, TP. Đà Nẵng nói chung trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nằm trong vùng rừng núi hiểm trở phía tây nam huyện Hòa Vang, khu căn cứ đã trở thành điểm tựa vững chắc cho phong trào cách mạng địa phương, nơi hun đúc tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất.
Tên Hiện Vật
Thông tin hiện vật
Trạng thái: Tốt
Loại hiện vật: Súng
Chất liệu: Thép
Trình trạng pháp lý: Hợp pháp
Nguồn gốc xuất xứ: Hiện vật từ khu căn cứ
Ngày nhập kho: 12/3/2025
Thời kỳ hoặc niên đại: Niên đại từ thế kỷ 20
Nơi lưu trữ: Nhà truyền thống Huyện Hòa Vang
Nơi trưng bày: Khu căn cứ cách mạng
Điều kiện bảo quản: Cần bảo quản
Chế độ bảo mật: Phổ biến
Trong kháng chiến chống Mỹ, du kích xã Hòa Phong tham gia nhiều trận đánh diệt nhiều Mỹ-Ngụy, súng được cất giữ ở hầm bí mật nhà mẹ Lê Thị Loan